Chuyện về những Luật sư nổi tiếng nặng tình với nghề giáo

(Phap ly) – Giáo sư Nguyễn Văn Lê từng viện dẫn lời một nhà tư tưởng nói về nghề dạy học: “Nếu người thợ kim hoàn làm hỏng một đồ vàng bạc thì anh ta có thể đem ra nấu lại. Nếu một viên ngọc quý bị hư thì có thể phá bỏ… Nhưng nếu làm hư một con người là một tội lớn, một lỗi lầm lớn không thể nào chuộc được”.

Lịch sử dân tộc ta đã lưu danh những bậc thầy “đức cao vọng trọng” – tấm gương sáng ngời về cốt cách thanh cao; không bị cám dỗ bởi tiền tài và danh vọng. Nhân kỷ niệm 32 năm ngày Hiến chương Nhà giáo Việt Nam, Pháp lý xin được giới thiệu tới quý bạn đọc về những luật gia, luật sư mà cuộc đời của họ không chỉ cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ công lý, lẽ phải, mà cuộc đời của họ còn gắn liền với sự nghiệp giáo dục và có những cống hiến nhất định cho sự nghiệp giáo dục.

Luật sư, Nhà giáo Nguyễn Mạnh Tường – một tài năng hiếm có

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường sinh ngày 16/9/1909 tại phố Hàng Đào, Hà Nội. Cha ông là Nguyễn Căn Cát, một công chức. Năm 1937, ông kết hôn với bà Tống Lệ Dung và sau đó có được 3 người con: một trai, hai gái là Nguyễn Tường Hưng, Nguyễn Dung Nghi và Nguyễn Dung Trang.

Luật sư, nhà giáo Nguyễn Mạnh Tường thời trẻ
Luật sư, nhà giáo Nguyễn Mạnh Tường thời trẻ

Từ nhỏ, ông đã theo học tiếng Pháp tại các trường Collège Paul Bert, rồi Lycée Albert Sarraut, Hà Nội. Năm 16 tuổi, ông đậu Tú tài triết học hạng ưu, được học bổng sang Pháp học Luật và Văn chương tại đại học Montpellier.

Một ngày đầu xuân 1946, Hồ Chủ tịch cho mời luật sư Nguyễn Mạnh Tường tới, đề nghị ông tham gia vào phái đoàn Chính phủ chuẩn bị đàm phán với Pháp ở Đà Lạt.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông được đồng chí Bùi Lâm đón lên Việt Bắc tham gia công tác luật sư cho Chính phủ, mỗi tháng phải đi một tỉnh, tùy theo Tòa án Quân sự, Tòa án Nhân dân điều động.

Ngoài các hoạt động đơn lẻ ở một số tỉnh, thành trong nước, từ sau 1950, khi ta mở rộng quan hệ ngoại giao với nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã được lựa chọn vào đoàn Chính phủ đi dự Hội nghị Bảo vệ hòa bình thế giới ở Bắc Kinh năm 1952 và ở Vienne năm 1953. Năm 1956, ông là Trưởng đoàn Luật gia Việt Nam đi dự Hội nghị Luật gia dân chủ thế giới họp ở Bruxelles (Bỉ).

Hai năm sau, ông đậu Cử nhân Văn chương với 4 chứng chỉ: văn chương Pháp, văn chương Hy Lạp, văn chương La tinh và Bác ngữ học. Năm 1930, ông đậu Cử nhân Luật. Tháng 5/1932, ông bảo vệ Luận án Tiến sĩ Luật. Một tháng sau, ông tiếp tục bảo vệ Luận án Tiến sĩ Văn chương.

Không phải ngẫu nhiên mà ở tuổi 22, Nguyễn Mạnh Tường đã đậu 2 bằng Tiến sĩ. Một trong những bí quyết thành công của ông chính là làm việc cật lực. Từ lớp 6 cho tới tú tài, mỗi tuần ông có thói quen đọc 2 cuốn tiểu thuyết Tây. Suốt 5 năm dài, mỗi sáng ông thức dậy từ 4 giờ, học và viết tới 8 giờ thì đến lớp, chiều lại học tới khuya. Cho đến nay, trên đất nước Pháp, chưa có một sinh viên Pháp hay sinh viên ngoại quốc nào phá được kỷ lục của vị Giáo sư kính mến Nguyễn Mạnh Tường.

Năm 1946, khi tiếng súng toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ông phải đi đường Nam Định để về Hà Nội, rồi tản cư đi Hà Nam. Địch đánh Hà Nam, ông chạy sang Thái Bình. Địch đánh Thái Bình, ông lại chạy vào Thanh Hoá. Điện Biên Phủ thắng lợi, ông mới được về lại Hà Nội, tiếp quản trường Đại học Luật và Đại học Sư phạm. Tại Đại học Sư phạm, ông được dạy môn Văn học Pháp, điều khiến ông vô cùng thích thú.

Với văn học Pháp thì thầy Tường là chuyên gia. Có người đọc luận án của thầy phải thốt lên: Luận án của Nguyễn Mạnh Tường là một công trình văn chương tươi đẹp. Thầy viết văn Pháp hay hơn người Pháp. Dạy văn học phương Tây, thầy Tường ở một thế khó là đậu rất cao, biết rất nhiều, học rất giỏi nhưng dạy thì toàn những học trò… nhà quê, văn học phương Tây với họ vừa xa lạ, vừa cao siêu. Đầu óc thầy Tường lại uyên bác những văn học Hy Lạp – La Mã, sành sỏi cả chữ La tinh, chữ Hy Lạp.

Trong mắt các học trò, thầy Tường là người có tấm lòng yêu nước, đạo đức cá nhân rất trong sạch, giản dị, cần kiệm trong sinh hoạt và sống rất gương mẫu.

Cho đến ngày nay, nhớ đến Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, nhiều học trò của thầy vẫn nghĩ: chỉ riêng sự có mặt của thầy trong hàng ngũ các nhà trí thức đi kháng chiến cùng với Bác Hồ đã là một sự cổ vũ đối với tuổi trẻ ngày ấy. Vì đó là một minh chứng cho tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến của chúng ta, sự nghiệp của toàn thể nhân dân, của tất cả mọi người yêu nước.

Luật sư Vũ Đình Hoè – Người “tạo nền” cho hệ thống giáo dục mới

Luật sư Vũ Đình Hòe – người “tạo nền” cho hệ thống giáo dục mới
Luật sư Vũ Đình Hòe – người “tạo nền” cho hệ thống giáo dục mới

Ông sinh ra trong một gia đình Nho học, nguyên quán tại làng Lương Ngọc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Tiếp thu một cách tự nhiên chí hướng của tổ tiên, từ khi bắt đầu cắp sách đi học cho đến lúc bảo vệ thành công Luận án Cử nhân Luật khoa tại trường Đại học Đông Dương, Giáo sư luôn kiên trì vượt qua hoàn cảnh ngặt nghèo của gia đình, cố gắng tự bươn chải kiếm sống mà vẫn nổi tiếng học giỏi, mọi kỳ thi đều đạt hạng tối ưu. Thế nhưng, nhà trí thức trẻ tuổi này không nhằm mưu cầu giàu sang phú quý cho riêng mình. Ông sớm xác định một lý tưởng sống cao đẹp mà nhiều thanh niên ưu tú thuộc thế hệ ông đã hướng tới: bằng trình độ văn hóa cao và nhiệt huyết của tuổi trẻ, các vị đó muốn chung tay góp sức đẩy mạnh việc nâng cao dân trí, đưa đất nước thoát cảnh lầm than nô lệ. Vì thế ngay khi còn ngồi trong giảng đường đại học (1932-1935), ông đã hăng hái tham gia các hoạt động xã hội của Tổng hội sinh viên.
Tốt nghiệp đại học, thay vì dễ dàng có một vị trí tốt trong hàng ngũ quan lại, công chức cao cấp của chính quyền thực dân, ông đã chọn con đường dạy học tốt đẹp nhưng thanh bạch tại hai trường trung học tư thục nổi tiếng lúc đó là Thăng Long và Gia Long.

Luật sư, luật gia Vũ Đình Hòe (1912 – 2011) là một trong những vị Giáo sư đầu tiên của nền Đại học Việt Nam mới, từng giữ hai chức vụ quan trọng trong Chính phủ đó là Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục (từ tháng 8/1945 đến tháng 3/1946) và Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong suốt 15 năm. Ông cũng là một trong số 29 thành viên Ban sửa đổi Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban (Ban này đã dự thảo ra Hiến pháp năm 1960).

Mười lăm năm làm việc với tư cách chuyên viên cao cấp tại Viện Luật học, trực thuộc Ủy ban Khoa học xã hội (1961-1975) rồi tiếp đến thời kỳ nghỉ hưu, dù hoạn lộ thăng trầm, ông luôn giữ được cốt cách một kẻ sĩ: bình tĩnh, ung dung, điềm đạm, vẫn say mê mài miệt viết sách, viết báo, làm từ điển, tham gia các cuộc hội thảo khoa học của Quốc hội và Bộ Tư pháp. Những công trình của ông về luật học, đặc biệt về Dân luật đã phục vụ thiết thực công cuộc đổi mới của đất nước.

Vừa dạy học ông vừa tham gia hoạt động trong Hội Truyền bá Quốc ngữ. Với vai trò Phó Chủ tịch, ông phụ giúp đắc lực cho cụ Chủ tịch Hội – cố học giả Nguyễn Văn Tố (sau này là Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Hai vị, một già một trẻ, đã đến các địa phương, kiên nhẫn xây dựng phong trào, với ước muốn thiết tha cháy bỏng, sao cho dân mình ngày càng nhiều người thoát nạn mù chữ. Không chỉ đầu tư công sức vào lĩnh vực giáo dục, ông còn ý thức sâu sắc về tầm quan trọng của báo chí trong công cuộc “nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí”.

Tháng 8/1945 ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục. Trong 6 tháng làm Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục, dưới sự chỉ đạo của Hồ Chủ tịch, ông đã làm được những việc mang tính “tạo nền” cho hệ thống giáo dục mới… Ông còn quan tâm nghiên cứu các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.

Tháng 1/1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá I và từ tháng 3/1946, được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Tư pháp trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến cho đến tháng 9/1960. Từ tháng 9/1960 ông chuyển về công tác tại tổ Luật học thuộc Uỷ ban Khoa học Nhà nước (tiền thân của Viện Luật học thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam) cho đến năm 1975 thì về hưu.

Năm 1996, ông  được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất.

Trước khi qua đời vào năm 2011, Giáo sư Vũ Đình Hòe để lại ba điều ước. Điều đầu tiên, trẻ em không bị bạo hành, được thương yêu và lại được hưởng điều 15 của Hiến pháp 1946 như từng được hưởng trong những năm Dân chủ Cộng hoà. Đó là “nền sơ học cưỡng bách và không học phí”. Điều thứ hai, người già được con cháu và toàn thể xã hội kính trọng, chăm sóc để được yên vui và thanh thản hưởng tuổi trời. Điều thứ ba, vị giáo sư đã cống hiến gần như trọn đời cho giáo dục mong nền giáo dục thực sự là “giáo dục vị nhân sinh”.

Người thầy của bản Giẳng, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ – Người cách mạng kiên trung

Luật sư – Chủ tịch đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ, bí danh là Ba Nghĩa, sinh ngày 10/7/1910 trong một gia đình công chức trung lưu tại làng Long Phú, tổng Long Hưng Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc thị trấn Bến Lức, tỉnh Long An).

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được người dân bản Giẳng yêu mến xem như người con, người thầy của bản
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được người dân bản Giẳng yêu mến xem như người con, người thầy của bản

Năm 1921, mới 11 tuổi, Nguyễn Hữu Thọ từ giã quê hương, một mình vượt đại dương sang Pháp du học. Suốt 11 năm miệt mài đèn sách ở xứ người, năm 1933 ông tốt nghiệp Cử nhân Luật hạng ưu và trở về nước mở Văn phòng Luật tại Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ rồi Sài Gòn – Chợ Lớn.

Năm 1948, luật sư Nguyễn Hữu Thọ được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và đứng đầu trong phong trào tri thức ở Sài Gòn. Trong ba tháng đầu năm 1950, phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân thành phố Sài Gòn diễn ra sôi nổi, có tổ chức. Để tiếp tục hướng dẫn dư luận, nhóm tri thức ở Sài Gòn tự in các thông cáo để phát đến tay đồng bào.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là Chủ tịch đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ cao như: Phó Chủ tịch nước Việt Nam thống nhất (1976 – 1980), Quyền Chủ tịch nước (tháng 4/1980 đến tháng 7/1981), Chủ tịch Quốc hội (1981-1987), Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc (tại Đại hội năm 1988), Phó Chủ tịch Hội đồng nhà nước khóa VII, VIII.

Năm 1946, luật sư Nguyễn Hữu Thọ được cử làm Chánh án Tòa án dân sự Vĩnh Long. Đầu năm 1947, luật sư Nguyễn Hữu Thọ từ chức Chánh án Tòa án dân sự tỉnh Vĩnh Long để lên Sài Gòn, mở văn phòng luật sư riêng tại số nhà 152 đường Charles de Gaulle. Và điều rất có lợi cho cách mạng là văn phòng luật sư của ông đã trở thành nơi tập hợp giới trí thức tiến bộ ở Sài Gòn và cả miền Nam sau ngày toàn quốc kháng chiến.

Sự kiện ngày 15/3/1950, với tư cách là Trưởng phái đoàn đại biểu các giới Sài Gòn, ông đã bào chữa thành công cho dược sĩ Phạm Hữu Hạnh, Chủ tịch Hội Liên Việt Sài Gòn – Chợ Lớn cùng với 21 nhà trí thức khác bị Pháp đưa ra tòa. Bằng lời lẽ đanh thép và lập luận sắc bén, luật sư buộc thực dân Pháp phải hoãn việc xét xử 22 nhà trí thức của Hội Liên Việt Sài Gòn – Chợ Lớn… để trả tự do cho những trí thức Sài Gòn lúc đó.

Trưa 13/4/1950, Pháp bắt luật sư Nguyễn Hữu Thọ với “tội” phát tán truyền đơn bất hợp pháp. Sau đó nhân dân biểu tình đòi thực dân Pháp thả luật sư Nguyễn Hữu Thọ nên thực dân Pháp không dám đưa luật sư Nguyễn Hữu Thọ ra tòa án vì sợ phản ứng của quần chúng. Để cách ly ông với phong trào cách mạng đang sục sôi của thành phố Sài Gòn, thực dân Pháp quyết định đày ông lên bản Giẳng, xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Đây là nơi tận cùng phía Tây Bắc của đất nước, cuộc sống hoang sơ, khó khăn đủ bề hòng đày đọa và giết chết người cách mạng kiên trung. Thực dân Pháp không ngờ rằng, tại bản Giẳng, luật sư Nguyễn Hữu Thọ lại được bà con nhân dân đùm bọc, yêu mến, xem như người con, người thầy của bản.

Mỗi buổi tối, ông Nguyễn Hữu Thọ giảng giải cho mọi người về tinh thần yêu nước, đấu tranh cách mạng không chịu khuất phục làm nô lệ cho thực dân Pháp. Ngày đi nương, tối về bà con, thanh niên trong bản lại tụ tập về nhà Trưởng bản chong đèn dầu để nghe ông Nguyễn Hữu Thọ nói chuyện.

Thời gian trôi nhanh, luật sư Nguyễn Hữu Thọ, nguyên là Quyền Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 4/1980 – 7/1981) đã về thế giới bên kia, nhưng tấm gương về người cách mạng, một tri thức lớn không thể xóa mờ trong lớp lớp người dân ở vùng đất này. Năm 2012, UBND huyện Mường Tè (Lai Châu) đã đầu tư xây dựng nhà tưởng niệm luật sư Nguyễn Hữu Thọ và ngôi trường tiểu học mang tên người trên mảnh đất đã che chở, đùm bọc luật sư.

Cuộc đời, sự nghiệp của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ là quá trình vận động từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến chủ nghĩa cộng sản và gắn liền với sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Luật sư là con người tiêu biểu của tình đoàn kết dân tộc, là một nhà lãnh đạo tài năng, một tấm gương sáng về đạo đức, tác phong, lối sống giản dị, khiêm tốn, trong sạch, hy sinh vì nghĩa lớn, không khuất phục trước cường quyền, không sa ngã trước tiền tài danh lợi, vì lý tưởng cộng sản cao đẹp. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã hiến dâng trọn đời cho Tổ quốc, cho dân tộc.

Vân San

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *