Bài 17 – Trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân: Phạt tiền và đình chỉ hoạt động là 2 hình phạt chính

(Pháp lý) – Trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân trong khoa học pháp luật hình sự có thể hiểu là hậu quả pháp lý của việc pháp nhân thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân do Luật Hình sự quy định. Như vậy TNHS của pháp nhân không vượt ra khỏi nội hàm của khái niệm TNHS, chỉ khác ở điểm, thay vì trước đây, TNHS chỉ áp dụng cho cá nhân người phạm tội thì nay có thể áp dụng cho pháp nhân.

Từ 01/01/2018 sẽ xử lý hình sự đối với pháp nhân có hành vi xả thải vượt quá quy chuẩn kỹ thuật với lưu lượng xả thải lớn gây ô nhiễm môi trường (ảnh minh họa)
Từ 01/01/2018 sẽ xử lý hình sự đối với pháp nhân có hành vi xả thải
vượt quá quy chuẩn kỹ thuật với lưu lượng xả thải lớn gây ô nhiễm môi trường (ảnh minh họa)

Chế tài hình sự đối với pháp nhân kinh tế

Đây là một nội dung hoàn toàn mới và vô cùng quan trọng, làm thay đổi cơ bản chính sách hình sự truyền thống, trước đó BLHS năm 1999 không có quy định TNHS đối với pháp nhân. Bên cạnh nguyên tắc cá thể hóa TNHS, luật hình sự Việt Nam đã đặt ra TNHS của pháp nhân thương mại trong một số tội theo quy định của BLHS 2015 (sửa đổi năm 2017).

Có thể thấy TNHS của pháp nhân thương mại được quy định bổ sung trong BLHS năm 2015 được hình thành trên cơ sở đánh giá tình hình, điều kiện mới, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tội phạm. Điều này, đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về đấu tranh, xử lý tội phạm trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.

Theo đó, với việc sửa đổi, bổ sung tại khoản 2, Điều 2 BLHS năm 2015 về cơ sở TNHS: “Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự”, có thể coi đây là lần đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển pháp luật hình sự nước ta quy định cơ sở TNHS đối với pháp nhân thương mại và cũng là quy định mang tính tiền đề, làm nền tảng cho những quy định khác về TNHS đối với pháp nhân trong BLHS năm 2015.

Tuy nhiên cần phải hiểu một cách đầy đủ và chính xác nội hàm của pháp nhân thương mại BLHS năm 2015 là chỉ đặt vấn đề trách nhiệm hình sự đối với các pháp nhân kinh tế. Còn những pháp nhân khác hoặc những tổ chức không có tư cách pháp nhân (cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác… theo quy định tại các Điều 74, Điều 75, Điều 76 – BLDS năm 2015) thì chủ thể sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Ngay cả pháp nhân kinh tế cũng chỉ có pháp nhân gắn với hoạt động thương mại mới chịu TNHS. Như vậy, quy định TNHS đối với pháp nhân thương mại là phù hợp với thực tiễn nhằm tạo tính răn đe cao đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần phòng, chống các loại tội phạm mà chủ thể là pháp nhân vì lợi nhuận gây hại đến môi trường, kinh tế và các lĩnh vực khác. Các vụ việc vi phạm nghiêm trọng luật pháp về môi trường, kinh tế do các pháp nhân thương mại thực hiện thời gian qua cho thấy thủ đoạn ngày càng tinh vi và để lại hậu quả nghiêm trọng như vụ Công ty Vedan (Đồng Nai), vụ Công ty Nicotex (Thanh Hóa), vụ Formosa (Hà Tĩnh)… mặc dù làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nhưng không bị pháp luật hình sự chế tài hành vi.

Vừa nghiêm khắc vừa mềm dẻo

Quy trình xử lý hình sự pháp nhân được quy định trong BLHS 2015 dựa trên bốn nguyên tắc thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời thể hiện sự mềm dẻo trong việc xử lý đối với từng loại pháp nhân phạm tội.

Theo đó tại khoản 2, Điều 3 BLHS năm 2015 quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội: “a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật; b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra”.

Kể cả pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS 2015 trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Điều 6 BLHS năm 2015).

Quy định trên theo các chuyên gia luật, mang tính pháp điển hóa những quy định trong các Điều ước quốc tế về tội phạm mà Việt Nam là thành viên. Thông qua việc pháp điển hóa hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại nước ngoài, giúp nước ta vừa bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, vừa giúp cho hoạt động giao lưu, trao đổi kinh tế với các nước trên thế giới được bình đẳng, tạo động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Đặc biệt lần đầu tiên trong lịch sử xây dựng pháp luật hình sự, khái niệm về tội phạm đã được mở rộng bao gồm cả pháp nhân thương mại phạm tội, tạo cơ sở vững chắc để truy cứu TNHS đối với pháp nhân, mang bốn đặc trưng của tội phạm là tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, tính có lỗi, tính phải chịu hình phạt. Theo đó, Điều 8 BLHS năm 2015 quy định: “1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”.

Điều 30 BLHS năm 2015 quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó”.

Như vậy so với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung quy định về khái niệm hình phạt có sự mở rộng hơn về chủ thể. Tuy nhiên cần phải hiểu đầy đủ, mục đích chính của hình phạt đối với pháp nhân thương mại không chỉ là trừng trị mà còn nhằm mục đích giáo dục, răn đe, góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phảm, bảo đảm an toàn và sự phát triển của xã hội, qua đó góp phần đảm bảo sự công bằng trong xử lý hình sự giữa cá nhân với pháp nhân thương mại theo đúng nguyên tắc, mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật.

Đánh mạnh vào kinh tế của pháp nhân

Dựa trên kinh nghiệm của các nước khác và thực tiễn pháp nhân phạm tội ở Việt Nam để cụ thể hoá hình phạt đối với pháp nhân, tại Chương VI của BLHS năm 2015, lần đầu tiên pháp luật hình sự nước ta quy định các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội, bao gồm hai loại hình phạt là hình phạt chính (khoản 1 Điều 33) BLHS năm 2015 và hình phạt bổ sung (khoản 2 Điều 33). Cụ thể: – Hình phạt chính bao gồm: Phạt tiền; Đình chỉ hoạt động có thời hạn; Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; – Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; Cấm huy động vốn; Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính. Luật cũng quy định (khoản 3 Điều 33): Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Có thể thấy, một trong những đặc điểm nổi bật trong quy định hình phạt đối với pháp nhân là các nhà làm luật đánh mạnh vào mặt kinh tế của pháp nhân, xuất phát từ mục đích chính của pháp nhân là hoạt động vì lợi nhuận, đây là mặt trực tiếp và có ảnh hưởng lớn nhất đối với sự tồn tại và phát triển của pháp nhân. Đồng thời, những loại hình phạt mà BLHS năm 2015 quy định đối với pháp nhân thương mại, đã và đang được quy định là những hình thức xử lý vi phạm đối với pháp nhân trong những văn bản pháp luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012… và nhiều văn bản pháp luật khác. Tuy nhiên, những hình thức xử lý này chưa đủ sức răn đe, giáo dục cho nên chưa mang lại hiệu quả đấu tranh phòng ngừa cao đối với pháp nhân có hành vi vi phạm. Chính vì thế, dưới góc độ là những loại hình phạt do BLHS quy định, mang tính nghiêm khắc, cưỡng chế nhà nước cao nhất thì sẽ góp phần quan trọng vào quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm do pháp nhân gây ra một cách có hiệu quả.

Việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại là vấn đề mới được đặt ra, Việt Nam chưa có kinh nghiệm thực tiễn về chế định này, do vậy việc xác định các tội danh mà pháp nhân thương mại phải chịu TNHS trong BLHS 2015 đã thể hiện sự thận trọng, phù hợp, trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm và phổ biến của những hành vi vi phạm xảy ra trong thực tiễn để quy định trong BLHS nhằm xử lý hành vi phạm tội. Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, trên cơ sở tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, trước mắt, xác định phạm vi các tội danh mà pháp nhân phạm tội phải chịu TNHS chỉ thuộc các nhóm tội phạm kinh tế và tội phạm về môi trường, đây là những tội danh mà pháp nhân thường hay vi phạm (tính phổ biến), có mức độ nguy hiểm nhất định và dễ chứng minh trên thực tế.

Nhìn chung, đây là những tội mà thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm thời gian qua đã diễn ra rất phức tạp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và thiệt hại đối với xã hội, với nhân dân do pháp nhân gây ra là rất lớn. Với 31 tội danh mà pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự là tương đối bao quát, đủ để xử lý các hành vi vi phạm nghiêm trọng của pháp nhân trong thực tiễn hiện nay./.

Theo thống kê mới nhất, hiện trên thế giới có 119 nước quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân như Nhật Bản, Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ, Canada, Australia, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Phần Lan, Vương quốc Bỉ, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Slovakia, Hungari, Lavia, Estonia, Croatia,… trong đó, khu vực ASEAN có 06 nước như Singapo, Malaixia, Thái Lan, Philipin, Indonexia và Campuchia. Đặc biệt, Trung Quốc là nước có nhiều nét tương đồng về truyền thống lập pháp với nước ta cũng đã có quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.

VŨ LÊ MINH

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *